Monday, April 18, 2016

ÔN TẬP K35 ĐỊA MỸ THUẬT - LSMTTG

HẠN CHẾ ÔN TẬP
Dùng cho: Sinh viên K35 CĐSP Địa lý – Mỹ thuật
MÔN LỊCH SỬ MỸ THUẬT THẾ GIỚI


Câu 1: (2 điểm)
             Anh(chị) hãy cho biết một số tác giả và tác phẩm Mỹ thuật tiêu biểu                của thời kỳ phục Hưng?

Cừu 2: (8 điểm)
              Được tìm hiểu và nghiên cứu Lịch sử Mỹ thuật thế giới; Anh(chị) phân tích sơ lược về một số tác phẩm tiêu biểu mà anh chị tâm đắc nhất?


Câu 3: (8 điểm)
              Anh(chị) chọn và phân tích sơ lược một vài tác phẩm tiêu biểu Mỹ thuật Châu Âu thế kỷ XVII-XVIII - XIX?



HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI

Câu 1: (2 điểm)

 Nêu tóm tắt  được các đặc điểm một số Họa sỹ tiêu biểu cùng với những tác phẩm tiêu biểu như sau:        Tên, năm sinh và một số tác giả tác phẩm tiêu biểu của các họa sỹ
1, Họa sĩ Giốt-tô đi Bôn-đô nê (91267-1337) ....với tác phẩm tiêu biểu:
        “ Phản bội chúa”
         “ Đám tang chúa”(1306)

 2, Họa sĩ Đô-na-ten-lô91386-1466)...với tác phẩm tiêu biểu :
         a, Ma-đôn-na vôn-ken.
         b, Ma-đôn- na o-ri-an-di-ni.
        C, Ma-đô -na se-ru-bin

  3,Hoạ sĩ Ma-dắc-xi- ô  (1401-1428)... với tác phẩm tiêu biểu:
         “ Chúa ba ngôi,Đức mẹ, Thánh Giôn...
   4, Họa sĩ  Bô-ti-xen-li (1445-1510)... với tác phẩm tiêu biểu:
            “ Ngày sinh của thần vệ nữ”
             “ Mùa xuân”...

  5, Họa sĩ  Lê-ô-na-đờ Vanh-xi (1452-1519)... với tác phẩm tiêu biểu:
           “ Bữa tiệc cuối cùng”
           “ Mô-na-li-da”....
   
   6,  Họa sĩ Mi-ken-lăng-giơ(1475-1564)... với tác phẩm tiêu biểu:
       
           “ Pi-et-ta”
           “ Đa-vít”(1501-1504)
           “ Tranh trên vòm giáo đương”
            “ Ngày và đêm”
            “ Ngày phán xét cuối cùng”

  7, Họa sĩ  Ra-pha-en (1483-1520)... với tác phẩm tiêu biểu:
           “ Đức mẹ của đại công tươc”
           “ Đức mẹ đồng trinhvà chúa hài đồng”...


Câu 2: (8 điểm)

   Bài làm phân tích hai hoặc ba tác phẩm tiêu biểu của họa sĩ thế giới.
     1,     Nêu tóm tắt  tiểu sử tác giả,tác phẩm:
       +   Tên tác giả...năm sinh...xuất xứ...
       +   Tên tác phẩm....chất liệu.kích thước...thể loại...vài nét về hoàn cảnh             ra đời tác phẩm...
      2,     Nội dung và hình thức thể hiện
        +    Tác phẩm vẽ về nội dung chủ đề gì...
         +    Hình thức thể hiện:
-          Bố cục...
-          Hình, mảng, đường nét..(mảng chính...mảng phụ...)
-          màu sắc đậm nhạt ...
       3,    Giá trị nghệ thuật của tác phẩm
         -     Bài làm biết phân tích,so sánh về nét riêng của từng tác phẩm
         -     Giá trị nghệ thuật của tác phẩm

         -     Rút ra được bài học....

Friday, April 15, 2016

Bài hát hay 2016, Mr. siro, Erik, SAU TẤT CẢ

ÔN TẬP THI HỌC PHẦN TC MẦM NON

1.        Anh (chị) trình bày khái niệm và ý nghĩa hoạt động nghệ thuật tạo hình?
    Khái niệm nghệ thuật tạo hình:
Nghệ thuật tạo hình là tên gọi chỉ các loại hình cùng chung một ngôn ngữ biểu đạt như: Hội họa, Điêu khắc, Kiến trúc, Trang trí, Đồ họa. Nghệ thuật tạo hình sử dụng các hệ thống ngôn ngữ như đường nét hình khối, hình mảng, màu sắc…để tạo nên các tác phẩm như bức tranh, pho tượng, công trình kiến trúc trang trí làm đẹp cho cuộc sống môi trường.
    Nghệ thuật tạo hình  bao gồm nhiều loại hình có chung một phương pháp biểu đạt, tạo nên các mối qua hệ không gian và tác động đến người xem bằng cảm hứng thị giác, vì vậy nghệ thuật tạo hình còn được gọi là nghệ thuật thị giác hay Mỹ thuật.
    Hoạt động tạo hình:
    Hoạt động tạo hình là một hoạt động nhận thức đặc biệt mang tính sáng tạo, nó phản ánh hiện thực cuộc sống bằng những hình tượng nghệ thuật trong đó con người không ghỉ khám phá lĩnh hội thế giới  mà còn cải tạo nó theo quy luật của cái đẹp gửi gắm vào đó tâm hồn người nghệ sĩ.
    Hoạt động tạo hình gắn liền với hoạt động con người. Ngay từ khi con người chưa có ngôn ngữ họ đã sử dụng hình vẽ như là một ngôn ngữ giao tiếp và truyền lại các kinh nghiệm sản xuất. Điều đó chứng tỏ  Hoạt động tạo hình là một trong những nhu cầu  rất cần thiết đối với đời sống con người.

2.        Anh (chị) trình bày khái niệm về vẽ theo mẫu (hình họa)? Ý nghĩa của vẽ theo mẫu?
    Khái niệm: Vẽ theo mẫu (Hình họa) là người vẽ nghiên cứu mẫu đã trình bày sẵn, tìm cách để vẽ cho đúng, cho giống mẫu về dáng vẻ, hình khối, đậm nhạt, màu sắc và có không gian như nó vốn có ở trước mắt theo cách suy nghĩ và cảm xúc của riêng mình.
    Ý nghĩa:
- Phân môn vẽ theo mẫu (hình hoạ) nhằm rèn luyện nâng cao năng lực quan sát nhận xét các vật mẫu, luyện tay vẽ thành thạo, chính xác, có khả năng biểu hiện được hình dáng, tỉ lệ, độ đậm nhạt và màu sắc của các khối hình trong không gian ( như hình mẫu ở trước mắt).
- Vẽ theo mẫu sẽ hình thành thị hiếu thẩm mỹ tốt, phát triển năng lực sáng tạo, kỹ năng, kỹ xảo thể hiện đối tượng, đồng thời rèn luyện phương pháp làm việc khoa học.
- Vẽ theo mẫu giúp nhận thức nhanh dáng vẻ của các đối tượng, hình thành nên tình cảm yêu quý thiên nhiên, yêu quý người lao động và thành phẩm lao động do con người làm ra.

3.        Màu sắc đối với cuộc sống con người như thế nào? Khái niệm cơ bản về màu gốc? Màu nhị hợp?Màu trung gian?
Trong cuộc sống, màu sắc có mặt ở khắp mọi nơi, mọi chỗ. Mọi vật được tô điểm bằng những màu sắc tạo nên sự đa dạng vui mắt vì thế với tài trí, con người đã biết khai thác, sử dụng màu sắc để  tạo không khí vui tươi để phục vụ cho đời sống tinh thần ngày càng cao của chính mình, màu sắc do ánh sáng mặt trời chiếu dọi đến mọi vật và mắt người cảm nhận được .
              Màu sắc có tác động đến trạng thái tình cảm của con người, gần gũi thân thiết không thể thiếu được trong cuộc sống, nó có tác động đến tình cảm của người nghệ sỹ khi vẽ tranh.              
    Màu gốc: Gọi là màu gốc vì chỉ từ nó mới có thể pha trộn ra các màu khác, nếu không có nó thì không có các màu khác đó là các màu: Đỏ, Vàng, Lam
Màu nhị hợp: Gồm các màu : Cam, Lục (Xanh lá cây) Chàm, Tím. Màu nhị hợp bởi nó được pha trộn từ hai màu nguyên chất đứng cạnh nhau tạo thành: Đỏ + Vàng = Da cam; Lam + Đỏ          =  Tím; Lam + Vàng = Lục (lá cây)
Màu trung tính đó là trắng và đen, vì nó không thuộc màu nóng cũng không thuộc màu lạnh người ta có thể chuyển nó thành nóng hoặc lạnh đều được.
 Ví dụ: Trắng pha với đỏ thành hồng (nóng); trắng + xanh = xanh nhạt (lạnh)

4.        Anh (chị) trình bày: Khái niệm về Trang trí? Các nguyên tắc trang trí cơ bản?
Khái niệm: Trang trí (nói chung) là sự sắp xếp tô điểm của con người làm cho mọi vật thêm tươi đẹp, từ trong gia đình đến ngoài xã hội ở đâu cũng có sự sắp xếp tô điểm của con người làm cho mọi vật thêm đẹp, thêm tươi những việc làm đó gọi chung là trang trí.
Các nguyên tắc cơ bản của trang trí :
Nguyên tắc tương phản : Tạo cho trang trí có sự đa dạng phong phú để làm nổi phần nào đó mảng nào đó trong bố cục. Mang tính chất đối lập nhau luôn được khai thác để cái nọ tôn cái kia lên.Về hình mảng: Mảng nhỏ phải có mảng to. Về đậm nhạt : Sáng « Tối. Về đường nét : Nét cong « Nét xiên «Nép gấp khúc.Về hình thể : Bên cạnh mảng vuông phải có mảng tròn, tam giác ...Về màu sắc :   Dùng tương phản, độ nóng lạnh để làm nổi phần nào đó.     
Nguyên tắc cân đối:    Đó là sự săp xếp hai hoà, hợp lý giữa các mảng với tổng thể không to quá không nhỏ quá. Các mảng các hoạ tiết, các độ đậm nhạt và màu sắc phải được bố trí cân bằng không lệch hoặc không được dồn về một phía. 
Tóm lại:  Nguyên tắc tương phản là sự cân đối trong trang trí là hai quy tắc có tính chung nhất có thể áp dụng cho mọi thể loại trang trí. Nguyên tắc tương phản làm đa dạng, phong phú cho trang trí. quy tắc cân đối giữ cho bố cục có sự thăng bằng  hài hoà. Một trang trí đẹp là đảm bảo được những nguyên tắc đó.                                 
    
5.        Ý nghĩa của phương pháp thu, phóng tranh, ảnh? Trình bày một số cách thu, phóng tranh, ảnh?
Phóng to, thu nhỏ tranh, ảnh giúp người ta chủ dộng thu nhỏ hoặc phóng to một bức tranh hoặc một tấm ảnh theo yêu cầu của người sử dụng. Trong thực tế tranh, ảnh cũng có nhiều kích thước khác nhau không thể đáp ứng được  yêu cầu sử dụng hoặc trong việc mang đi mang lại. Việc phóng to, thu nhỏ tranh, ảnh là việc làm cần thiết đối với một số người học sinh, giáo viên, cán bộ tuyên truyền ...
Phóng theo cánh kẻ ca rô (ô vuông) Là trên mặt tranh, ảnh cần thu phóng nguời ta kẻ những ô vuông đều nhau. Trên khuôn khổ giấy sẽ thu, phóng tranh, ảnh người ta cũng kể những ô vuông lớn hoặc nhỏ hơn so với tranh mẫu.  
Phóng theo cách kẻ đường chéo (ô bàn cờ) Người ta kẻ những đường chéo góc và những đường trục trên tờ tranh mẫu hoặc tờ giấy định thu phóng theo tỉ lệ phóng to, thu nhỏ tuỳ ý theo yêu cầu của người sử dụng
6.        Anh (chị) trình bày các kiểu chữ cơ bản mà anh chị biết qua đó nêu rõ tỉ lệ của bảng chữ cái trong kẻ chữ?
Kiểu chữ Cổ đại (Baton): Loại chữ này có các nét đều nhau  vì thế nó còn được gọi là kiểu chữ gậy.
Ví dụ: a b c d e g h I
Kiểu chữ Ai cập: Có nét thanh nét đậm, nhưng giữa nét  thanh nét đậm không có sự khác biệt nhau lắm. Chữ có chân vuông
Ví dụ: p q s t
Kiểu chữ La Mã (Romanin): Chữ có nét thanh, nét đậm và nét thanh rất mảnh, chữ có chân nhọn.
Ví dụ: k l m n o

7.        Khái niệm vẽ tranh? Ý nghĩa và các yếu tố của tranh vẽ?
Tranh vẽ có tính chất tổng hợp nhiều yếu tố như hình hoạ, ký hoạ, màu sắc, phương pháp sắp xếp (bố cụ chình mảng, đậm nhạt, xa gần ...) Nhằm ghi lại, tạo nên một hình ảnh một cảnh sinh hoạt hoặc nêu lên một vấn đề trong cuộc sống. Tranh vẽ gợi cho người xem những khung cảnh, hình ảnh cô đọng nhất, tập trung nhất.
Tranh vẽ có mục đích phục vụ cho yêu cầu cuộc sống (sản xuất, chiến đấu, học tập…. ) Nếu suy nghĩ chúng ta sẽ tìm thấy nhiều chủ đề rất thú vị để vẽ thành tranh có chủ đề tốt.
Tranh vẽ có tác dụng giáo dục động viên mọi người cho nên khi vẽ cần phải nghiên cứu kỹ nội dung, chọn lọc những nét điển hình tiêu biểu nhất để mô tả. Tranh vẽ là phản ánh cuộc sống bằng chính cuộc sống cho nên phải triệt để khai thác hình và màu của sự vật thông qua cảm xúc và tài năng sáng tạo của người vẽ.
Người vẽ phải biểu hiện chủ đề bằng những nguyên tắc phương pháp sáng tác và cảm xúc của họ để bức tranh đạt được 3 yếu tố :
          - Tính chân thực cụ thể
          - Tính khoa học
          - Tính thẩm mỹ
Tóm lại : Vẽ tranh cần phải :
          - Biết lựa chọn chủ đề
          - Có vốn sống và sự hiểu biết từ cuộc sống
          - Nắm được những nguyên tắc, phương pháp xây dựng bố cục
                 - Có khả năng thể hiện chủ đề.                            

8.        Anh (chị) trình bày khái niệm, đặc điểm, đặc trưng và ý nghĩa đồ chơi đối với việc giáo dục trẻ Mầm non?
    Khái niệm đồ chơi: Đồ chơi là những phương tiện dùng để chơi, đồ chơi là bạn không thể thiếu trong các trò chơi của trẻ Mần non và đây là nguông cảm hứng đối với trẻ
    Đặc điểm: Đồ chơi không phải là đồ thật và dùng để tạo cho các em trò chơi hấp dẫn vui vẻ.
    Đặc trưng: Đồ chơi mang tính tượng trưng của đồ vật thực, Hình tượng phải mang tính khái quát cao hơn, đẹp hơn và hấp dẫn hơn tạo cảm xúc cho trẻ thích thú và phải phù hợp từng lứa tuổi.
    Ý nghĩa: Giáo dục đạo đức,Giáo dục trí dục; Giáo dục thể dục; Giáo dục mỹ dục; Giáo dục lao động.

9.        Anh (chị) trình bày Khái niệm đồ chơi? các nguyên tắc làm đồ chơi? và nguyên tắc làm bảo quản đồ chơi?
              Khái niệm đồ chơi: Đồ chơi là những phương tiện dùng để chơi, đồ chơi là bạn không thể thiếu trong các trò chơi của trẻ Mần non và đây là nguông cảm hứng đối với trẻ
    Nguyên tắc làm đồ chơi: Đồ chơi phải đảm bảo tính giáo dục; Đồ chơi phải đảm bảo tính khoa học, tính thực tiến, tính dân tộc. Đồ chơi phải đảm bảo tính thẩm mỹ; Đồ chơi phải đảm bảo tính vệ sinh an toàn.
    Nguyên tắc bảo quản đồ chơi: Đồ chơi phải có chỗ để như (Kệ, giá, tủ); Đồ chơi phải để nơi khô ráo, thoáng; Đồ chơi phải sạch sẽ gọn gàng ngăn nắp; Đồ chơi phải để nơi dễ cất, dễ lấy đối với trẻ.

10. Ý nghĩa của bảng bé ngoan? Nêu cách trình bày một bảng bé ngoan?
Ý nghĩa: Bảng bé ngoan là một hình thức dùng để biểu dƣơng, khen thƣởng đối với trẻ mẫu giáo. Có tác dụng tạo thêm niềm vui, sức hấp dẫn, nguồn hứng thú đối với trẻ. Góp phần trang trí lớp học.
Cách trình bày một bản bé ngoan:
Chia khoảng cách bề mặt của bảng bé ngoan ra các phần trang trí: Phần chính như: Tiêu đề bảng bé ngoan; Bình cắm cờ, biểu tượng lớp, Bình cắm cờ cho tổ và biểu tượng cho tổ.  Phần phụ: Bình cắm cờ cá nhân, Đường diềm xung quang, Đường diềm phân chia tổ và lớp. Thể hiện chi tiết: Làm bình cắm cờ, trang trí đường diềm…. Xếp hình và dán hình trang trí.

11. Bằng họa tiết tự chọn anh (chị) trang trí hình tròn có đường kính 15 cm.
        a. Về bố cục : (4 điểm)
Bài vẽ có bố cục đẹp, đúng khuôn khổ,
Hình, mảng, họa tiết đẹp,thể hiện rõ nội dung trang trí hình tròn.
        b. Đậm nhạt màu sắc ( 3 điểm)
Bài vẽ màu hoàn chỉnh.
Tương quan đậm nhạt về màu sắc giữa các mảng, họa tiết hài hòa đẹp mắt.

12. Bằng họa tiết tự chọn anh (chị) trang trí hình vuông có cạnh 15 cm.
        a. Về bố cục : (4 điểm)
Bài vẽ có bố cục đẹp, đúng khuôn khổ,
Hình, mảng, họa tiết đẹp,thể hiện rõ nội dung trang trí hình vuông.
        b. Đậm nhạt màu sắc ( 3 điểm)
Bài vẽ màu hoàn chỉnh.
Tương quan đậm nhạt về màu sắc giữa các mảng, họa tiết hài hòa đẹp mắt.

13. Bằng họa tiết tự chọn anh (chị) trang trí đường diềm chiều cao7 cm, chiều dài 20 cm.
        a. Về bố cục : (4 điểm)
Bài vẽ có bố cục đẹp, đúng khuôn khổ,
Hình, mảng, họa tiết đẹp,thể hiện rõ nội dung trang trí đường diềm.
        b. Đậm nhạt màu sắc ( 3 điểm)
Bài vẽ màu hoàn chỉnh.
Tương quan đậm nhạt về màu sắc giữa các mảng, họa tiết hài hòa đẹp mắt.
14. Bằng vốn hiểu biết của mình anh (chị) Hãy vẽ một tranh có đề tài về học sinh Mầm non kích thước 15 cm x 20 cm

        a. Về bố cục : (4 điểm)
Bài vẽ có bố cục đẹp, đúng khuôn khổ, thể hiện rõ nội dung đề tài
Hình vững vàng, thể hiện rõ mảng chính, mảng phụ.
        b. Đậm nhạt màu sắc ( 3 điểm)
Bài vẽ màu hoàn chỉnh.
Tương quan đậm nhạt về màu sắc giữa các mảng, họa tiết hài hòa đẹp mắt.

15. Kẻ hoàn chỉnh dòng chữ nét đều: BẢNG BÉ NGOAN. Chiều cao chữ: 5cm

a. Về bố cục : (4 điểm)
Có bố cục đẹp, đúng khuôn khổ chiều cao quy định, đúng tỉ lệ chiều ngang con chữ
Chữ thể hiện vững vàng, chắc chắn. Sắc nét.
        b. Đậm nhạt màu sắc ( 3 điểm)
Vẽ màu hoàn chỉnh các con chữ.  Thể hiện hài hòa đẹp mắt.

Run Away - Kim JaeJoong, Hậu duệ mặt trời 2016, Part 5.

RBP - NHỮNG KIỆT TÁC NGHỆ THUẬT VỀ CÁC LOÀI HOA

Thursday, April 14, 2016

Alwasy - Yoon Mirae Tasha, Hậu duệ mặt trời 2016, Part 1

ÔN TẬP SƯ PHẠM TIỂU HỌC

Câu 1: Vị trí, mục tiêu và quan điểm chương trình môn Mỹ thuật ở trường Tiểu học.
Gợi ý trả lời: 
Vị trí:
- Dạy học ở trường THCS là dạy học sinh nhận biết cái đẹp, tập tạo ra sản phẩm có tính chất thẩm mỹ và vận dụng những hiểu biết về cái đẹp vào trong học tập, sinh hoạt, cuộc sống hàng ngày, góp phần xây dựng xã hội phát triển văn minh.
- Môn Mỹ thuật ở trường THCS tạo điều kiện để học sinh tiếp xúc với cái đẹp về đường nét, hình khối, màu sắc,... của thiên nhiên và đời sống con người. Môn Mỹ thuật còn hình thành ở học sinh năng lực quan sát, phân tích phát triển khả năng tư duy trìu tượng, suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo và hỗ trợ các môn học khác, góp phầmn xây dựng con người lao động mới phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Dạy học Mỹ thuật ở trường THCS có hệ thống sẽ thận lợi cho giáo dục thẩm mỹ, giáo dục Nghệ thuật truyền thống và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.

Môn Mỹ thuật ở trường THCS góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh
Muc tiêu: 
1. Giáo dục thẩm mỹ cho học sinh là nhiệm vụ chính của  môn học mỹ thuật.
2. Cung cấp cho học sinh một số kiến thức mỹ thuật phổ thông, giúp các em hiểu biết về cái đẹp và hoàn thành các bài tập của chương trình. Đồng thời tạo điều kiện cho học sinh học tập tốt hơn các môn học khác, góp phần xây dựng môi trường thẩm mỹ cho xã hội.
3. Rèn luyện cho học sinh cách quan sát, khả năng tìm tòi, sáng tạo để góp phần hình thành phẩm chất người lao động mới.
4. Giúp học sinh nhận thức được vẻ đẹp của mỹ thuật dân tộc và có ý thức giữ gìn, bảo tồn nền mỹ thuật đó.
          5. Tạo điều kiện cho những học sinh có khả năng, có nhu cầu tiếp tục học ở các ngành mỹ thuật và các ngành có liên quan như: Kiến trúc, xây dựng, thời trang và sư phạm mỹ thuật.
Quan điểm: 
- Giáo dục thẩm mỹ là nhiệm vụ chính của dạy và học MT
- Coi trọng giờ thực hành (số giờ lý thuyết ngắn, chất lượng) 
- Cung cấp kiến thức mỹ thuật phổ thông, chú ý khai thác thêm tư liệu địa phương.
- Phù hợp với điều kiện kinh tế hiện nay.
- Đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh.                              

Câu 2: Nội dung chương trình Mỹ thuật tiểu học?
Gợi ý trả lời: 
Vẽ theo mẫu :
* Nhiệm vụ : Dạy cho học sinh biết cách quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp để nắm được đặc điểm, cấu trúc, tỷ lệ, màu sắc, chất liệu của đồ vật và biết thể hiện sự quan sát đối tượng trên tờ giấy vẽ. Quá trình thực hành giúp cho học sinh nắm được những nét tiêu biểu của đồ vật, gíup trí nhớ được bền vững, góp phần phát triển trí tuệ cho học sinh. Nói cách khác vẽ theo mẫu có nhiệm vụ rèn luyện tri giác thị giác và khả năng thể hiện đối tượng vẽ cho học sinh.
* Nội dung :
- Rèn luyện nề nếp học vẽ như cách ngồi vẽ, cách cầm bút, cách sử dụng màu, cách trình bày hình vẽ lên trên trang giấy….  luôn được quán triệt từ lớp 1 đến lớp 5.
Giai đoạn 1 : Các em học vẽ các đường nét cơ bản và các đồ vật đơn giản có chiều dày không đáng kể. Mẫu vẽ được đặt ở tư thế trực diện ngang tầm mắt (nhìn thấy chiều cao và chiều ngang của mình, chưa yêu cầu vẽ phối cảnh)
Giai đoạn 2 : Chủ yếu các đồ vật đơn giản nhưng yêu cầu thể hiện cao hơn. Đã có yêu cầu vẽ phối cảnh và thể hiện sáng tối (đậm nhạt). Mẫu vẽ đặt chếch, dưới tầm mắt nhìn thấy 3 chiều của đồ vật : chiều cao, chiều ngang, chiều sâu.
Vẽ trang trí :
* Nhiệm vụ : Làm cho học sinh nắm được các yếu tố tạo nên vẽ đẹp của trang trí (hoạ tiết, hình mảng màu sắc, bố cục). Biết cảm thụ vẽ đẹp của nghệ thuật trang trí qua nhịp điệu  của đường nét và họa tiết, qua sự phong phú của hình mảng, sự cân đối của bố cục và sự hài hoà của màu sắc. Dạy cho học sinh cách sáng tạo trang trí (đơn giản) để các em có thể tạo ra một số sản phẩm trang trí phục vụ cho học tập và sinh hoạt (trang trí sách vở, góc học tập, nhãn vở, bích báo) học trang trí, thị hiếu thẩm mỹ được giáo dục và phát triển.
* Nội dung:
Giai đoạn 1 : Học sinh tập sử dụng thước kẻ, bút chì, để vẽ các đường nét cơ bản, vẽ các hình, kẻ các đường chéo, vẽ hoa lá đơn giản. Tập chép một số mẫu đơn giản để làm quen đường nét, nhịp điệu, bố cục trang trí và bước đầu tập trang trí đường diềm, hình vuông, hình tròn. Tập gọi đúng tên các màu cơ bản và tập tô màu.
Giai đoạn 2 : Các em tập sáng tạo hoa tiết, tập trang trí một số mẫu đơn giản (đường diềm, hình vuông, hình tròn). Tập gọi tên các màu có trong hộp, tập pha màu, tập kẻ chữ.
Vẽ tranh 
* Nhiệm vụ : Dạy cho học sinh biết cách thể hiện sự suy nghĩ của mình về một đề tài bằng ngôn ngữ hội hoạ (hình vẽ, màu sắc, bố cục). Bồi dưỡng cho các em khả năng nhận thúc tác phẩm nghệ thuật, nâng cao trình độ thẩm mỹ.
* Nội dung :
Giai đoạn 1 : Học sinh vẽ những đề tài gần gũi, đơn giản đối với các em. Chưa yêu cầu các em sắp xếp hình vẽ theo những nguyên tắc bố cục, chỉ cần các em "liệt kê" một số hình vẽ phù hợp với đề tài, màu sắc vẽ theo tình cảm của các em.
Giai đoạn 2 : Học sinh vẫn vẽ các đề tài đơn giản, gần gũi và có thêm một vài bài minh hoạ một ý truyện mà các em thích. Bước đầu dạy cho các em cách sắp xếp bố cục tranh: mảng trọng tâm (mảng chính)và các mảng khác (mảng phụ).Về không gian: người, cảnh vật ở gần thì vẽ to hơn người, cảnh vật ở phía xa. Về màu sắc dùng màu làm nổi trọng tâm (mảng chính) ở gần tô màu sáng, đậm. ở xa tô màu nhạt dần, biết sử dụng màu tối để diễn tả không gian.
Thường thức Mỹ thuật 
+ Nhiệm vụ: Học sinh biết phân tích, tìm hiểu nội dung của tác phẩm và hình thức thể hiện bố cục, màu sắc, hình tượng nghệ thuật để bồi dưỡng dần năng lực cảm thụ nghệ thuật cho các em.
+ Nội dung: Giờ thường thức mỹ thuật  được bố trí từ lớp 1 đến lớp 5,. Giáo viên cần nắm vững được yêu cầu của chương trình để sưu tầm những tranh có nội dung phù hợp với đặc điểm tâm lý của học sinh và đảm bảo về nội dung và hình thức nghệ thuật.
Câu 3: Các phương pháp dạy môn mỹ thuật ở trường tiểu học.
Gợi ý trả lời: 
2.1. Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát được thể hiện qua cách giáo viên hướng dẫn cho học sinh cách nhìn, cách ngắm đối tượng với mục đích nhất định để có những nhận xét, đánh giá chính xác về đối tượng, …
a) Quan sát từ bao quát đến chi tiết: (từ cái chung đến cái riêng) Cụ thể là:
- Tìm vị trí nhìn để đối tượng có hình dáng bề ngoài (Hình khối, đậm nhạt) đẹp. Từ đó người vẽ sẽ có ý định bố cục cho bài vẽ của mình (đặt hình vẽ trong trang giấy thế nàp? Dọc hay ngang..)
- Nhìn vào toàn bộ bài vẽ để thấy được bố cục chung: sáp xếp hình mảng, xác định mảng chính mảng phụ, khoảng trống Tìm màu sắc chung của toàn bài và màu trọng tâm, không nhìn chi tiết vào hình vẽ hay riêng một màu sắc nào.
b) Quan sát các chi tiết, bộ phận và đối chiếu so sánh với tổng quát (từ cái chung đến cái riêng) để nhận thức sâu sắc hon vẽ được đúng hơn. Trong quá trình vẽ, mối quan hệ riêng – chung này luôn tương tác với nhau, Thí dụ:
- Ở vẽ theo mẫu: Vẽ khung hình trước rồi mới tìm tỉ lệ bộ phận; sau đó khi vẽ chi tiết lại phải đối chiếu so sánh với khung hình hay vạch mảng đậm nhạt, vẽ sơ bộk đậm nhạt trước, nhưng khi vẽ đậm nhạt ở chi tiết vẫn phải nhìn đậm nhạt chung của các mảng lớn
- Ở vẽ trang trí, vẽ đề tài, tập nặn, tạo dáng: vẽ các mảng lớn, nhỏ (bố cục) và lên đậm nhạt trước, sau mới tìm hoạ tiết hay vẽ hình cho phù hợp với các mảng. Khi vẽ màu cũng phải tuân theo độ đậm nhạt lớn đã tạo nên từ bố cục ban đầu còn khi vẽ chi tiết luôn nhìn bố cụ chung (toàn thể) để điều chỉnh.
c) Quan sát đồng thời phân tích, so sánh để có nhận xét đúng về đối tượng. Khi vẽ ta, thường so sánh:
- Theo chiều ngang – thường dùng quê đo
- Theo chiều dọc – thường dùng dây dọi
- So sánh đậm nhạt – thường nheo mắt để so sánh
- So sánh chiều ngang và chiều dọc là để biết đựoc độ cao thấp, rộng hẹp, lồi lõm, thẳng đứng hay nghiêng…
Còn so sánh đậm nhạt là để lấy chỗ sáng, tối của đối tượng để diễn tả chiều sâu (Không gian) của tranh.
Tất cả những điều rút ra khi so sánh chỉ là sự ước lượng của người vẽ một cách tương đối, không yêu cầu chính xá 100% nhưnmg người vẽ phải vẫn quan sát kỹ đối tượng thì mới có được những nhận xét `tương đối chuẩ xác. nếu ước lượng vội vàng thì hình vẽ dễ bị sai, sửa đi sửa lại sẽ ảnh hưởng đến chất lượng bài vẽ
- So sánh phải có “chuẩn” chẳng hạn tìm tỉ lệ các bộ phận phải lấy chiều ngang hay chiều cao khung hình làm chuẩn, tìm đậm nhạt thì lấy độ đậm nhất để tìm ra độ đậm vừa và độ nhạt
- So sánh giữa các bộ phận, chi tiết với nhau: Hình mảng ở gần nhau thường hay có kích cỡ tương đương sẽ giúp cho người vẽ nhận xét đúng hơn trong khi vẽ, quá trình quan sát luôn luôn được vận hành như sau:
Quan sát để ghi nhận những điều đã thấy ở đối tượng, sau đó khi thể hiện (vẽ) hoạ sĩ vẽ bằng cách nhớ lại những gì đã ghi nhận. Nừu thấy nghi ngờ những điều gì đó là chưa chuẩn xác, người vẽ lại phải quan sát đối tượng để kiểm tra hay tiếp tục quan sát để phát hiện những đặc điểm khác của đối tượng rồi ghi lại ghi nhận và vẽ tiếp.
Lưu ý:
Có thể vận dụng phương pháp quan sát như sau:
 Cần xác định mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ quan sát cho học sinh.
 Hướng dẫn học sinh quan sát có trọng tâm, cần nêu được đặc điểm của mỗi bài.
 Hướng dẫn cho học sinh cách quan sát đối tượng:
- Quan sát từ bao quát đến chi tiết.
- Quan sát cần đối chiếu, so sánh để rút ra nhận xét đúng, khách quan.
2.2. Phương pháp trực quan:
Phương pháp trực quan được thể hiện qua cách giáo viên trình bày nội dung, kiến thức của bài học qua vật thật, hình tượng hay hình ảnh nhằm giúp học sinh hiểu bài được dễ dàng và vững chắc hơn.
1. Chuẩn bị đồ dùng trực quan:
Đồ dùng trực quan của môn mỹ thuật thường là mẫu vẽ (các đồ vật, dụng cụ trong sinh hoạt, mô hình các khối hình học, hoa quả thực ...) tranh ảnh: (Các phiên bản tranh nghệ thuật, các bức vẽ minh hoạ của giáo viên, tranh của học sinh, thiếu nhi...) Các hình vẽ minh hoạ (bộ đồ dùng dạy học).
Môn mỹ thuật, ngoài nhiệm vụ cung cấp những tri thức bộ môn và rèn luyện kỹ năng, nó có nhiệm vụ giáo dục thẩm mỹ cho học sinh. Do đó đồ dùng giảng dạy cần phải đẹp để thu hút sự chú ý của học sinh, tạo nên không khí học tập, làm cho các em yêu thích vật mẫu bởi vẻ đẹp về hình dáng, màu sắc của mẫu làm phấn chấn tinh thần học tập của các em. Điều đó góp phần không nhỏ vào việc giáo dục thẩm mỹ cho các em. Vì thế đồ dùng học tập mỹ thuật cần chuẩn bị chu đáo, đẹp, sạch theo yêu cầu của giờ học. Tranh minh hoạ cần được vẽ to vừa phải để học sinh có thể nhìn rõ được (nhất là học sinh ở cuối lớp) màu sắc phải tươi vui sáng sủa.
2. Trình bày đồ dùng trực quan:
Có thể vận dụng phương pháp trực quan như sau:
- Trình bày đồ dùng dạy - học (ĐDDH) phải khoa học, đúng lúc, rõ ràng, phù hợp với nội dung; giới thiệu hay cất ĐDDH phải hợp lí, có thể:
 Giới thiệu xong từng đơn vị kiến thức nên cất đi vì một số học sinh thường rập khuôn, sao chép lại mẫu.
 Lời giới thiệu nội dung hoặc các câu hỏi gợi ý học sinh suy nghĩ của giáo viên phải ăn khớp cùng thời điểm với sự xuất hiện ĐDDH.
 Giáo viên cần chỉ vào những nơi cần thiết ở ĐDDH để nhấn mạnh trọng tâm của bài …. Không để học sinh bị các chi tiết lôi cuốn mà không tập trung vào những điểm chính.
- Không lạm dụng quá nhiều ĐDDH hoặc kéo dài thời gian làm cho học sinh dễ phân tán chú ý.
- Cho học sinh vận dụng nhiều giác quan (nghe, nhìn, ngửi, sờ, …).
- Trình bày bảng: Bảng cũng là ĐDDH khi lên lớp, do đó giáo viên cần lưu ý:
* Trình bày bảng gồm có kênh hình và kênh chữ, trình bày khoa học, thẩm mĩ, rõ ràng…Chữ viết phải to vừa phải, kiểu chữ chân phương, các đề mục phải rõ ràng. Kênh hình phải trình bày có hệ thống, không chen lấn kênh chữ…
a) Đặt mẫu trong vẽ theo mẫu cần phải nghiên cứu lớp học để học sinh quan sát được tốt mẫu vẽ. Thông thường sắp xếp bàn ghế theo hình chữ U. Bàn đặt mẫu ở giữa lớp. Mẫu có vóc dáng lớn đặt 2-3 cái (trên, giữa, cuối lớp ...) Đối với mẫu nhỏ (chén, bát ...) giáo viên có thể yêu cầu học sinh đem theo, chia học sinh ra thành các nhóm nhỏ, đặt mẫu ở giữa, các em học sinh ngồi xung quanh quan sát mẫu và vẽ, mẫu vẽ cần phải hấp dẫn, đẹp và được phủ rải nền.
b) Trình bày hình vẽ minh hoạ trên bảng cho các bước tiến hành.
Cách vẽ: Thông thường giáo viên vẽ trực tiếp bằng phấn  trên bảng theo từng bước giảng.
Cũng có thể chuẩn bị các cách sau:
- Sử dụng bộ đồ dùng học mỹ thuật
- Chuẩn bị các bước trên giấy, giảng đến đâu ghim, dán đến đó.
c) Trình bày tranh:
Hầu như ở môn mỹ thuật tiết học nào cũng phải có tranh mẫu để học sinh quan sát nhận xét.
Tranh có thể treo một lúc nhưng phân tích theo trọng điểm như: Phân tích về cách bố cục lấy ở bức này nhưng lại lấy ví dụ ở tranh kia... qua đó học sinh có thể so sánh đối chiếu chúng lại với nhau rút ra những nhận thức đúng, trình bày theo phương pháp này làm cho nhãn quang của học sinh được mở rộng, song dễ làm phân tán sự chú ý của học sinh.
Tranh có thể treo theo từng bước giảng: Giảng đến đâu treo tranh tới đó, khi nào giảng xong toàn bài mới cất tranh. Ưu điểm của cách trình bày này là sự chú ý của học sinh không bị phân tán.
Tuỳ theo từng nội dung của từng bài mà có thể sử dụng cách này hay cách khác hoặc kết hợp cả hai.
Phương pháp trực quan được thể hiện qua cách giáo viên trình bày nội dung, kiến thức của bài học qua vật thật, hình tượng hay hình ảnh nhằm giúp học sinh hiểu bài được dễ dàng và vững chắc hơn.
Lưu ý:
- Trình bày đồ dùng dạy - học (ĐDDH) phải khoa học, đúng lúc, rõ ràng, phù hợp với nội dung; giới thiệu hay cất ĐDDH phải hợp lí, có thể:
 Giới thiệu xong từng đơn vị kiến thức nên cất đi vì một số học sinh thường rập khuôn, sao chép lại mẫu.
 Lời giới thiệu nội dung hoặc các câu hỏi gợi ý học sinh suy nghĩ của giáo viên phải ăn khớp cùng thời điểm với sự xuất hiện ĐDDH.
 Giáo viên cần chỉ vào những nơi cần thiết ở ĐDDH để nhấn mạnh trọng tâm của bài …. Không để học sinh bị các chi tiết lôi cuốn mà không tập trung vào những điểm chính.
- Không lạm dụng quá nhiều ĐDDH hoặc kéo dài thời gian làm cho học sinh dễ phân tán chú ý.
- Cho học sinh vận dụng nhiều giác quan (nghe, nhìn, ngửi, sờ, …).
- Trình bày bảng: Bảng cũng là ĐDDH khi lên lớp, do đó giáo viên cần lưu ý:
* Trình bày bảng gồm có kênh hình và kênh chữ, trình bày khoa học, thẩm mĩ, rõ ràng…Chữ viết phải to vừa phải, kiểu chữ chân phương, các đề mục phải rõ ràng. Kênh hình phải trình bày có hệ thống, không chen lấn kênh chữ…
2.3. Phương pháp giảng giải, gợi mở, vấn đáp tìm tòi
Với phương pháp này giáo viên dùng lời nói của mình bằng các lời giải thích các câu hỏi ngắn gọn, dễ hiểu, những thí dụ vui, sinh động, nhằm gây hứng thú học tập cho học sinh để dẫn dắt các em từ nhận thức này đến nhận thức khác, theo định hướng của giáo viên nhằm giải quyết một vấn đề nào đó của bài học. Giáo viên có thể lôi cuốn học sinh thích thú học tập bằng các lời nói gợi cảm như : Em hãy vẽ ...? Em hãy diễn tả ...? Ai có thể...?  hoặc khi hướng dẫn học sinh nên có những câu hỏi khích lệ, ganh đua tìm tòi học tập của học sinh như: Em nào có thể ...? Đố em nào ...? Mỗi hình thức nghệ thuật có một yêu cầu và nhiệm vụ giáo dục riêng vì thế việc gợi mở, giảng giải cần căn cứ vào nhiệm vụ, nội dung, trọng tâm của mỗi hình thức, mỗi giờ học có những biện pháp phù hợp để chất lượng giảng dạy đạt hiệu quả cao. Đặc biệt ở môn mỹ thuật sự tạo hứng thú học tập cho các em là rất cần thiết. Ngay từ đầu giờ học giáo viên cần gây được không khí bằng lới nói, thông qua cách sử dụng trực quan phù hợp với tâm lý, tạo được sự phấn đấu, học sinh vẽ với tất cả sự hào hứng say mê, kết quả giờ vẽ tốt. Nếu giờ học được bắt đầu bằng sự đơn điệu hoặc bị ức chế học sinh sẽ làm việc với sự uể oải bắt buộc không tự tin, chất lượng sẽ bị hạn chế.
Giáo viên tổ chức trao đổi ý kiến kể cả tranh luận giữa thầy với cả lớp, có khi giữa trò với trò, thông qua đó học sinh nắm được tri thức mới. Hệ thống câu hỏi được sắp đặt hợp lý nhằm phát hiện, đặt ra và giải quyết một vấn đề xác định, buộc học sinh phải liên tục cố gắng, tìm tòi giải đáp.
Giáo viên phải đầu tư vào việc nâng cấp chất lượng các câu hỏi, giảm số câu hỏi có yêu cầu thấp về nhận thức. Tăng dần số câu hỏi có yêu cầu cao về mặt nhận thức.
Các câu hỏi thường được sử dụng khi:
- Học sinh sắp sửa bước vào khâu nghiên cứu tài liệu mới.
- Học sinh đang thực hành luyện tập.
- Học sinh đang ôn tập những tài liệu đã học.
- Học sinh đang tham gia giải quyết vấn đề đặt ra.
- Học sinh đang được cuốn hút vào cuộc thảo luận sôi nổi và sáng tạo.
Lưu ý:
Các hệ thống câu hỏi cần tác động đúng lúc, đúng chỗ, có mức độ, có chất lượng cho học sinh giúp các em suy nghĩ thêm, tự tìm tòi và giải quyết được bài tập hay nâng cao chất lượng bài vẽ bằng khả năng của mình.
Môn mĩ thuật lấy thực hành là chủ yếu, sau khi được hướng dẫn cách vẽ, học sinh phải tự giải quyết bài tập bằng chính khả năng của mình. Vì vậy làm việc cá nhân giữa thầy giáo và học sinh lúc này rất quan trọng, quyết định đến kết quả bài vẽ của mỗi em.
Có thể vận dụng phương pháp gợi mở như sau:
 Giáo viên gợi mở trên thực tế bài vẽ của học sinh, phù hợp với từng đối tượng học sinh giỏi, khá, trung bình ...
 Các câu gợi mở phải mang tính khích lệ, động viên, không mang tính phủ định hay mệnh lệnh.
 Lời nhận xét, gợi mở luôn ở dạng nghi vấn.
Ví dụ: Với đề tài Ngày nhà giáo Việt Nam, học sinh có thể vẽ một số nội dung như: vẽ chân dung thầy, cô giáo; vẽ về buổi lễ kỉ niệm Ngày nhà giáo Việt Nam, về cảnh học sinh đang chúc mừng thầy, cô, … Với bài có nội dung vẽ chân dung, nếu học sinh chỉ vẽ hình ảnh người thầy, giáo viên có thể gợi mở: “Bài vẽ chân dung đẹp quá vì hình thầy to, rõ, màu rất đẹp, nhưng có một mình thầy thì buồn quá, làm sao để có không khí ngày lễ nhỉ?”, …
- Khi hướng dẫn các em làm bài, giáo viên không nên gò ép học sinh thể hiện bài theo ý mình, mà phải chú ý đến sự hài hòa giữa cảm xúc, với thực tế - tư duy non trẻ của các em. Trong bài vẽ có những cái vô lý, nhưng lại đúng với xúc cảm trực tiếp của các em.

2.4. Phương pháp luyện tập:
Phương pháp luyện tập được thể hiện thông qua các hoạt động giữa giáo viên và học sinh để các em hoàn thành bài tập nhằm củng cố những kiến thức đã tiếp thu được từ bài học, từ thực tế cuộc sống.
Kiến thức cơ bản của mĩ thuật được lặp đi lặp lại và nâng cao dần qua các bài tập, do vậy đối với từng phân môn, giáo viên cần hướng dẫn kĩ cách vẽ ở những bài đầu, những bài sau chỉ cần nhắc lại những ý chính, dành thời gian cho học sinh thực hành.
Phương pháp luyện tập có mục đích rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo vẽ cho học sinh, qua luyện tập, kiến thức được củng cố và  khắc sâu hơn. Đối với môn mỹ thuật, sự luyện tập của học sinh chiếm phần lớn thời gian trong tiết học. Các em được rèn luyện cách nhìn, cách quan sát đối tượng vẽ theo như kiến thức của nó, rèn luyện cách thể hiện sự quan sát đó lên tờ giấy.
Rèn luyện cách nhìn và cách thể hiện đối tượng là hai bước trong một quá trình dạy học sinh vẽ, nó có mối quan hệ thống nhất với nhau: Quan sát được cái gì? thể hiện được cái gì trên giấy ? (quan sát tốt hình vẽ sẽ gần giống ngược lại).
Do đó khi hướng dẫn học sinh quan sát so sánh ... giáo viên phải nghiên cứu kỹ đến cái gì học sinh sẽ phải thể hiện ở giờ học đó để có những câu hỏi gợi ý quan sát thích hợp, hướng được sự chú ý của học sinh vào những yêu cầu trọng tâm của thể hiện.
Trong lúc học sinh làm việc (vẽ) giáo viên cần theo dõi, giúp đỡ các em. Nếu thấy phần lớn học sinh còn lúng tùng vẽ thể hiện, càn cho cả lớp dùng thực hành để hướng dẫn chung cho cả lớp. Đối với học sinh khá cần động viên khích lệ để các em phấn khởi làm việc. Giúp đỡ các em kém bằng cách chỉ ra những chỗ chưa đúng gợi ý cách điều chỉnh. Khi học sinh đang làm bài giáo viên không nên chữa bài trực tiếp vào bài của học sinh mà nên vẽ sang bên cạnh để học sinh tự so sánh, tìm ra cái sai. Trường hợp các em quá kém, giáo viên không nên tỏ ra khó chịu làm các em chán nản, tự ti, nên chỉ bảo cặn kẽ và động viên khuyến khích các em.
Việc rèn luyện nền nếp học tập như: Cách ngồi vẽ, cách để vở vẽ, cách trình bày lên trang giấy, cách sử dụng các dụng cụ học vẽ ... cần được nhắc nhở, uốn nắn thường xuyên trong suốt quá trình vẽ, trong tất cả các giờ vẽ tạo thành một nề nếp học tập.
Phương pháp luyện tập được thể hiện thông qua các hoạt động giữa giáo viên và học sinh để các em hoàn thành bài tập nhằm củng cố những kiến thức đã tiếp thu được từ bài học, từ thực tế cuộc sống.
Kiến thức cơ bản của mĩ thuật được lặp đi lặp lại và nâng cao dần qua các bài tập, do vậy đối với từng phân môn, giáo viên cần hướng dẫn kĩ cách vẽ ở những bài đầu, những bài sau chỉ cần nhắc lại những ý chính, dành thời gian cho học sinh thực hành.
Có thể vận dụng phương pháp luyện tập như sau:
 Cung cấp kiến thức chung cho tất cả, những bài đầu của mỗi loại bài tập cần hướng dẫn kỹ phương pháp thực hiện, những bài sau chỉ hướng dẫn những ý chính, để thời gian cho học sinh luyện tập thực hành.
 Ra bài tập và nêu yêu cầu cần đạt để học sinh nắm được trước khi làm bài.
 Khi học sinh làm bài, giáo viên không vẽ giúp cho học sinh, cần kết hợp với phương pháp gợi mở.

2.5. Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ
Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ là cách tổ chức, hướng dẫn hoạt động học tập tập thể của học sinh theo từng nhóm nhỏ dưới sự chỉ đạo của giáo viên
Có thể vận dụng phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ qua các bước như sau:  Chia nhóm (từ 5–6 em), học sinh tự đặt tên cho nhóm, cử nhóm trưởng.
 Giao nhiệm vụ và hướng dẫn cách làm việc cho các nhóm (làm bài tập thực hành, phân tích tranh, tượng…).
 Cả nhóm tham gia hoàn thành nhiệm vụ (thảo luận hoặc phân công công việc cho cá nhân thực hiện).
 Các nhóm trưng bày sản phẩm, đại diện nhóm trình bày kết quả học tập của nhóm.
 Học sinh phân tích, đánh giá kết quả học tập của các nhóm khác (đúng, chưa đúng nội dung, hoặc đẹp, chưa đẹp) đồng thời nêu lí do rồi xếp loại, giáo viên nhận xét, bổ sung, đánh giá kết quả của từng nhóm và động viên, khích lệ tinh thần làm việc chung của học sinh.
Lưu ý:
Với những bài thực hành trang trí, vẽ tranh, tập nặn tạo dáng, thường thức mĩ thuật, phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ có thể mang lại hiệu quả trong một số hoạt động nhưng không nhất thiết bài nào cũng áp dụng một cách máy móc. Riêng đối với bài thực hành vẽ theo mẫu, không thực hiện phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ trong hoạt động hướng dẫn học sinh vẽ bài (thực hành) vì học sinh cần vẽ bài theo cách nhìn mẫu, cách cảm nhận riêng.

2.6. Phương pháp tổ chức các trò chơi hoạt động học tập:
- Trò chơi học tập là trò chơi có nội dung tri thức gắn với hoạt động học tập của học sinh và gắn với nội dung bài học giúp học sinh khai thác vốn kinh nghiệm của bản thân để chơi và để học tập. Tổ chức một trò chơi học tập phải có mục đích rõ ràng trò chơi phải được chuẩn bị trước và thu hút đông đảo học sinh tham gia tự giác, tích cực. Các trò chơi phải được hướng dẫn cụ thể, được chơi nhiều lần cho quen và phải được rút kinh nghiệm.
Tổ chức một trò chơi học tập bao gồm các công việc như:
- Giới thiệu trò chơi
- Chơi thử - nhấn mạnh luật chơi (chú ý các lỗi thường gặp)
- Chơi thật
- Nhận xét kết quả trò chơi, thái độ người tham dự và rút kinh nghiệm luật chơi vận dụng vào bài học.

Câu 4: Quy trình thiết kế bài giảng Mỹ thuật ở trường Tiểu học?
Gợi ý trả lời: 
2- Quy  trình thiết kế giáo án mỹ thuật:
  • *      Bài số
  • *      Tên phân môn
  • *      Tên bài
  • *      Lớp
  • *      Ngày dạy

 I.    Mục tiêu:
- Kiến thức :…….
- Kỹ năng :……
- Thái độ :…….
II. Chuẩn bị :
·      Giáo viên:….
- Đồ dùng dạy học:….
- Tài liệu tham khảo :….
·      Học sinh:….
III.             Phương pháp dạy học:….

IV.  Tiến trình tổ chức dạy - học
(Hai phn này  không nht thiết phi thc hin trong các tiết dy hc)

 
* Ổn định tổ chức:… (khởi động)
* Kiểm tra bài cũ:… (khởi động)

Hoạt động của giáo viên
(Dạy như thế nào, dạy bằng cách nào?) (Dự kiến, các hoạt động, câu hỏi yêu cầu học sinh trả lời sát với nội dung bài học…)- Hình thức giới thiệu bài.- Ghi các công việc của giáo viên để hoàn thành mục tiêu, nội dung của từng hoạt động dạy và học.
Hoạt động của học sinh
(Học như thế nào, học bằng cách nào)
(Quan sát, hoạt động học tập, trả lời các câu hỏi của giáo viên (Các câu trả lời của học sinh là dự kiến trả lời và là nội dung của bài học) …) Ghi rõ các hình thức hoạt động của học sinh
* Giới thiệu bài mới (Trực tiếp hoặc dán tiếp sao cho gắn gọn, dễ hiểu)
Hoạt động I: Hướng dẫn học sinh Quan sát - Nhận xét
Giáo viên bày mẫu (cho học sinh tham gia bày mẫu trong giờ học vẽ theo mẫu) hoặc treo tranh; đặt câu hỏi cho  học sinh trả lời sát với nội dung của tranh mẫu hoặc mẫu vẽ …
Học sinh quan sát ( học sinh có thể tham gia bày mẫu trong giờ học vẽ theo mẫu) trả lời các câu hỏi của giáo viên (sử dụng phương pháp làm việc theo nhóm)…


Hoạt động II: Hướng dẫn học sinh Cách vẽ
Chủ yếu là hoạt động của giáo viên để hướng dẫn học sinh cách vẽ nhưng cũng cần nhiều đến phương pháp vấn đáp tìm tòi…
Học sinh quan sát và trả lời các câu hỏi của giáo viên. …
Hình minh hoạ cho các bước

Hoạt động III: Hướng dẫn học sinh Thực hành
Giáo viên theo dõi giúp đỡ, củng cố kiến thức  cho hoc học sinh…
Chủ yếu là hoạt động của học sinh…

Hoạt  động IV : Hướng dẫn HS Đánh giá kết quả học tập
Treo tranh vẽ của học sinh theo các nhóm cho học sinh tham gia đánh giá bài của bạn giáo viên củng cố lại và cho điểm …
Học sinh đánh giá bài của bạn…




Hoạt  động IV : Tổ chức trò chơi hoạt động học tập
(Tuỳ theo nội dung bài học để có thể xếp đặt trò chơi và sau các hoạt động trên sao cho thích hợp - đối với một số bài không nhất thiết phải đưa trò chơi học tập vào)
Gv hướng dẫn trò chơi, luật chơi và tổ chức trò chơi
GV nhận xét, biểu dương
Học sinh tham gia trò chơi
Học sinh nhận xét kết quả trò chơi

* Củng cố:   Học sinh nhắc lại kiến thức bài học -  giáo viên củng cố

*  Dặn dò, ra bài tập về nhà:

Câu 5: Thực hành: Vẽ trang trí hình vuông cạnh 15 cm
Câu 6: Thực hành: Vẽ trang trí hình tròn đường kính 15 cm
Câu 7: Thực hành: Vẽ tranh đề tài học tập có chiều cao khung hình 7cm chiều rộng khung hình từ 10 - 12 cm
Câu 8: Thực hành: vẽ cái chai (chiêu cao 10 cm - đánh bóng bằng chì)

Câu 9: Thiết kế bài giảng: Vẽ trang trí: Vẽ tiếp họa tiết vào hình vuông và vẽ màu.
Lưu ý: Tập trung vào các hoạt động1 và  hoạt động 2
Câu 10: Thiết kế bài giảng: Vẽ theo mẫu: Vẽ quả
Lưu ý: Tập trung vào các hoạt động1 và  hoạt động 2
Câu 11: Thiết kế bài giảng: Vẽ theo mẫu: Vẽ cái chai
Lưu ý: Tập trung vào các hoạt động1 và  hoạt động 2
Câu 12: Thiết kế bài giảng: Vẽ trang trí: Trang trí hình tròn.
Lưu ý: Tập trung vào các hoạt động1 và  hoạt động 2